Tiểu luận: Cơ Sở Lý Luận Về Công Tác Pháp Chế

lananhxinh 02.02.2023
1 người theo dõi 3 bình luận 4 bài chia sẻ
Photography by lananh

Hôm nay Dịch Vụ Viết Luận Văn lại tiếp tục cung cấp miễn phí nội dung Tiểu luận: Cơ Sở Lý Luận Về Công Tác Pháp Chế cho các bạn, nếu bạn đang cần tài liệu cho bài luận văn Về Công Pháp Chế thì bài viết dưới đây là dành cho bạn. Bạn đã hiểu được khó khăn của mình khi tìm kiếm nội dung này, bởi hiện rất hữu ích trên các nguồn thông tin Internet. Nhưng để các bạn có bài viết luận văn hoàn chỉnh và đạt hiệu quả cao thì đó là lý do bài viết dưới đây được gửi miễn phí cho các bạn

Ngoài ra nếu mọi vấn đề vẫn còn khó khăn với bạn thì hãy liên hệ ngay Zalo/tele : 0972114537 để được tư vấn (miễn phí) cụ thể hơn bài làm của bạn, hoặc bạn có thể tham gia khảo sát dịch vụ tư vấn viết Luận văn bổ túc sĩ của Dịch Vụ Viết Luận Văn bạn nhé.

1. Khái niệm về công thức chế độ

“Ở các nước, bộ phận pháp chế (tiếng Anh: luật sư nội bộ, cố vấn doanh nghiệp, bộ phận pháp lý, pháp lý) được doanh nghiệp cho thuê xử lý các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp. Theo đó, bộ phận pháp chế doanh nghiệp thực hiện đầu tiên trách nhiệm pháp lý của công ty và thực hiện các giao dịch pháp lý thông thường. Công việc của bộ phận pháp chế có thể bao gồm lưu trữ tài liệu, xem xét quan hệ lao động, kiểm tra bất động sản, hợp đồng, giấy phép công nghệ, thương hiệu, thuế và hồ sơ pháp lý, tranh tụng. Bộ phận pháp chế doanh nghiệp cũng có thể tạo ra các chính sách quản lý rủi ro và giáo dục các nhân viên khác nhau để tránh rắc rối về pháp lý hoặc làm thế nào để tiếp nhận vấn đề một cách nhanh chóng. Bộ phận pháp chế nên/sẽ ký hợp đồng thuê bên ngoài (outsourcing) khi tham gia vào một nhiệm vụ thương mại mới hoặc có rủi ro rủi ro cao.

Theo Quy tắc Đoàn luật sư Bang Virgina (Mỹ), luật doanh nghiệp là luật sư được xác định là tổ chức với mục đích chính là cung cấp dịch vụ giải pháp lý cho doanh nghiệp, các chế độ (không bao gồm cơ quan chính) quyền). Trong tổ chức này, cá nhân có danh hiệu pháp luật chế độ doanh nghiệp, luật sư công ty hoặc tương đương, chỉ ra rằng người đó đang phục vụ như tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp. Cũng theo Quy tắc này, để thực hiện nghiệp vụ pháp chế doanh nghiệp, một người phải là thành viên Đoàn luật sư Bang Virgina; hoặc được cấp Giấy chứng nhận công nhận luật sư theo Quy tắc của Đoàn luật sư Bang Virgina và làm được điều đó, trở thành một thành viên được đánh giá tích cực của Đoàn luật sư Bang Virgina với giới hạn theo Quy tắc của Đoàn luật sư Bang Virgina; or register with Đoàn luật sư Bang Virgina.”[1]

Tại nước ta, theo Thông tư số 01/2015/TT-BTP hướng dẫn về nghiệp vụ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức pháp chế. Theo đó, Bộ tư pháp quy định cụ thể về chức năng của các tổ chức pháp chế, quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế tại Bộ, cơ quan ngang Bộ; tổ chức pháp chế tại cơ quan thuộc Chính phủ; tổ chức giải pháp chế độ tại Tổng cục và tương đương, Cục thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và Tổ chức giải pháp tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… Tuy đối tượng áp dụng của Thông tư vấn này là tổ chức pháp chế thuộc cơ quan nhà nước nhưng các tổ chức pháp chế doanh nghiệp phi nhà nước hoàn toàn có thể học hỏi mô hình, tổ chức để áp dụng cho bộ phận chế độ doanh nghiệp của mình.

Pháp: là luật, là quy tắc, quy định.

Chế độ: bao hàm nghĩa là “tạo ra” và nghĩa là “điều tiết, kiểm soát”.

Tuy nhiên, cần phải phân biệt khái niệm chế độ với luật. Theo đó luật luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử lý các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đề ra việc thiết lập một quy tắc xã hội trật tự nhất, pháp chế là chế độ trong đời sống đó và hoạt động xã hội được đảm bảo chắc chắn bằng pháp luật. Như vậy pháp luật là những quy phạm pháp luật cấm hành và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp tẩy trừ chế độ nhà nước, trong phạm vi doanh nghiệp, pháp chế là những quy định nội bộ trong doanh nghiệp đó cùng với các công trình vận tải quy định này, theo đó chế độ cho phép sẽ mang ý nghĩa trong phạm vi nhỏ hơn luật.

Như vậy có thể hiểu luật chế là những quy định, quy tắc của doanh nghiệp để kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp chấp hành theo những quy định của luật, bao gồm văn bản luật luật quốc gia quy định về tổ chức, hoạt động đối kháng với doanh nghiệp và những quy định do doanh nghiệp ban hành Dự kiến ​​đảm bảo hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp cũng như hạn chế rủi ro về pháp lý, đóng góp phần tích cực trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Công tác pháp chế được hiểu là hoạt động của cá nhân, tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công cụ có thể thực hiện thi pháp luật, có chức năng chắc chắn về mặt pháp lý cho doanh nghiệp, hạn chế rủi ro pháp lý cũng như một phần đóng góp đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Chức năng, nhiệm vụ của công tác pháp chế

Từ sự cần thiết phải có tổ chức pháp chế trong mỗi doanh nghiệp, chúng ta có thể thấy tổ chức pháp chế thường thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau:

– Thẩm gia đàm phán, thương thảo các hợp đồng quan trọng của doanh nghiệp với các đối tác trong kinh doanh; thẩm định các dự án thảo luận thuận lợi, các hợp đồng hợp tác, các dự án đầu tư để đảm bảo không trái luật, điều lệ hoặc có sơ đồ, sai sót về mặt luật có thể dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp.

– Soạn thảo, thẩm định các dự thảo quy chế, quy định quản lý và các văn bản quan trọng khác của đơn vị theo sự phân công của lãnh đạo.

– Cập nhật thông tin về các văn bản pháp luật mới ban hành, về tình hình thị trường kinh tế thông tin qua các phương tiện thông tin, các tổ chức pháp chế thuộc các cơ quan nhà nước, và cung cấp thông tin cho lãnh đạo doanh nghiệp về công việc vận tải áp dụng luật trong điều hành sản xuất, trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, trong các hợp đồng thương mại, tài chính, tín hiệu, dịch vụ, đào tạo, xây dựng…

– Tư vấn giúp lãnh đạo doanh nghiệp trong hoạt động bằng cách đưa ra các dự án báo cáo tác động về tình hình giá cả, thị trường… Giảm thiểu tối đa rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra.

3. Vai trò của chế độ công tác pháp

Pháp chế là một công cụ trong hoạt động bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Bộ phận pháp lý là một bộ phận có chức năng đảm bảo về mặt pháp lý cho doanh nghiệp, giúp người quản lý và doanh nghiệp hoạt động trong hành lang pháp lý an toàn. Hoạt động của doanh nghiệp nói chung gắn liền với thị trường và chịu sự chi phối của luật cạnh tranh, vì vậy, vai trò của chế độ doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ngày càng hết sức quan trọng.

Hiện nay, chúng ta đang mở cửa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, Chính phủ, các bộ, trường trung ương và các địa phương đang thực hiện nhiều giải pháp để thúc đẩy tiến độ, kêu gọi, thu hút đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư từ nước ngoài. Vì vậy, các hoạt động giao lưu và kinh doanh, thương mại của các doanh nghiệp không còn dừng lại ở nội bộ địa phương, trong nước mà đã mở rộng ra trong khu vực và nhiều nước trên thế giới. Theo đó, các rủi ro pháp lý rủi ro nhất là luật pháp và thông tin quốc tế luôn tiềm ẩn, do đó cần phải có giải pháp phòng ngừa, hạn chế các thiệt hại xảy ra trong giao kết, tranh chấp các giao dịch dân sự, kinh tế và các giao dịch khác.”

“Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đi lên từ mô hình sản xuất nhỏ, lâu nay hoạt động chủ yếu trong khuôn khổ, vi ao nhà, chưa được đào tạo hoặc bù đắp bài viết về kiến ​​thức pháp luật; khả năng tiếp cận thông tin thị trường và các văn bản luật liên quan còn nhiều hạn chế. Một số lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng kinh nghiệm, chưa hiểu hết các quy định của luật, đặc biệt là luật các nước đối tác và luật quốc tế chung. Điều này cũng đồng nghĩa với việc những rủi ro pháp lý là điều có thể xảy ra.”

“Hơn nữa, trong những năm gần đây, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế với những biến đổi thành lớn, sâu sắc và phức tạp, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi bằng Hiến pháp 2013 Bảo đảm đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời với chính sách thu hút đầu tư Phát triển nền kinh tế đất nước, quốc hội, chính phủ, các ngành đã ban hành nhiều văn bản luật, bộ luật và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để phù hợp với nội dung, nguyên tắc và tinh thần của Hiến pháp 2013 và sự phát triển của nền kinh tế cũng như các cam kết quốc tế.”

“Để phòng, chống lại những rủi ro pháp lý và giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm bắt kịp thời những quy định của pháp luật để áp dụng những chính sách đó vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bên ngoài hỗ trợ, tư vấn vấn pháp lý cho doanh nghiệp của các cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế của các sở, ban, ngành, viên chức trợ giúp, luật sư, cộng tác viên pháp luật,” các doanh nghiệp cần có bộ phận “gác cổng”, bảo vệ tham công, tư vấn, giúp lãnh đạo doanh nghiệp về những vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó chính là bộ part of method.

“Khi vướng vào rủi ro pháp lý dù ít hay nhiều cũng gây cho doanh nghiệp nhiều thiệt hại và bất lợi: thiệt hại đầu tiên có thể thể hiện ở mặt vật chất đó là tiền bạc; Để giải quyết những rủi ro đó, doanh nghiệp không có kiến ​​thức pháp luật phải tìm đến những đối tượng có thể giúp họ tìm ra phương án giải quyết tốt nhất có thể và chi phí tiền bạc cho công việc đó là không hề nhỏ. Bên cạnh đó, thời gian, công sức giải quyết khiến họ mệt mỏi, tập trung không thành công… và một tổn thất lớn không tính được bằng tiền đó là uy tín, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.”

“Bộ phận pháp chế doanh nghiệp sẽ giúp lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ như: Thẩm gia đàm phán, thương thảo các hợp đồng quan trọng của doanh nghiệp với các đối tác trong kinh doanh; thẩm định các dự án thảo thuận, các hợp đồng hợp tác, các dự án đầu tư để đảm bảo không trái luật, điều lệ hoặc có sơ đồ, sai sót về mặt luật có thể dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp; soạn thảo, thẩm định các dự thảo quy chế, quy định quản lý và các văn bản quan trọng khác của doanh nghiệp theo sự phân công của lãnh đạo; Cập nhật thông tin về các văn bản pháp luật mới ban hành, về tình hình thị trường kinh tế thông tin qua các phương tiện thông tin tiện lợi, các tổ chức pháp chế thuộc các cơ quan quản lý nhà nước và cung cấp thông tin cho lãnh đạo doanh nghiệp nghiệp về công trình vận tải áp dụng luật trong điều hành sản xuất, trong các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, trong các hợp đồng thương mại, tài chính, tín hiệu, dịch vụ, đào tạo, xây dựng… ; tư vấn giúp lãnh đạo doanh nghiệp trong hoạt động bằng cách đưa ra các dự án báo cáo tác động về tình hình giá cả, thị trường… Giảm thiểu tối đa rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra. Trong trường hợp xấu nhất, khi có tình huống tranh chấp xảy ra, bộ phận pháp chế sẽ tham gia giúp lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất, ít tốn kém nhất, bảo vệ uy tín doanh nghiệp nghiệp vụ. Thậm chí họ có thể giúp lãnh đạo doanh nghiệp tham gia tranh tụng, giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp.” Trong trường hợp xấu nhất, khi có tình huống tranh chấp xảy ra, bộ phận pháp chế sẽ tham gia giúp lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất, ít tốn kém nhất, bảo vệ uy tín doanh nghiệp nghiệp vụ. Thậm chí họ có thể giúp lãnh đạo doanh nghiệp tham gia tranh tụng, giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp.” Trong trường hợp xấu nhất, khi có tình huống tranh chấp xảy ra, bộ phận pháp chế sẽ tham gia giúp lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất, ít tốn kém nhất, bảo vệ uy tín doanh nghiệp nghiệp vụ. Thậm chí họ có thể giúp lãnh đạo doanh nghiệp tham gia tranh tụng, giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp.”

“Do đó, doanh nghiệp nhất thiết phải có một tổ chức tư vấn pháp chế vừa giúp lãnh đạo những vấn đề thuộc phạm vi luật vừa làm đầu mối quan hệ với các tổ chức tư vấn chuyên môn, tư vấn luật để đảm bảo về mặt pháp lý. Mục tiêu chính của doanh nghiệp khi thành lập ra tổ chức pháp chế giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn an toàn trong hành lang pháp lý. Các doanh nghiệp khi đã xây dựng được đội ngũ cán bộ pháp chế vững mạnh thì những cuộc đàm phán với đối tác mà đặc biệt là đối tác nước ngoài, vị trí của doanh nghiệp được nâng cao. Điều này thể hiện sự hiểu biết về luật và khẳng định tầm nhìn là một doanh nghiệp làm ăn Mặc hoàng, minh bạch luôn tuân thủ luật luật rất đáng tin cậy trong cơ chế thị trường, tạo hình ảnh tốt cho các đối tác khi liên kết hoạt động sản xuất kinh doanh..”

4. Vai trò của người thực hiện công thức chế độ

4.1. Vai trò xây dựng quy chế doanh nghiệp

Người làm công tác pháp chế trong doanh nghiệp là người có vai trò soạn thảo, xây dựng các quy chế nội bộ của doanh nghiệp. Vai trò này không chỉ dừng lại ở việc soạn thảo các quy chế mới tại doanh nghiệp mà còn có chức năng tham gia thẩm định, đóng góp ý kiến ​​đối với những văn bản luật hay những quy chế đã được Ban lãnh đạo, Chủ tịch sở hữu công ty xây dựng và chuyển giao cho Bộ phận pháp chế của doanh nghiệp đóng góp ý kiến.

Một số từ điển văn bản pháp lý dùng trong nội bộ doanh nghiệp hình như: Điều lệ, Nội quy, Quy chế, Hợp đồng lao động, Thỏa ước lao động tập thể, Các quyết định, Thông báo, Biên bản họp của Lãnh đạo công ty và các phòng ban trong công ty,…

4.2. Vai trò điều tiết, kiểm soát hoạt động của chế độ doanh nghiệp

Ngoài vai trò xây dựng quy chế nội bộ, người làm công tác pháp chế trong doanh nghiệp còn có một số vai trò như:

– Kiểm tra giám sát, giám sát đảm bảo quyền giám sát các quy định, quy chế nội bộ trong hoạt động của các bộ phận của doanh nghiệp.

– Góp phần không nhỏ trong việc kiến ​​nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc tư vấn, giúp đỡ Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc trong ban hành, sửa đổi, bổ sung sung các quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

– Thẩm gia đàm phán, ký kết hợp đồng cũng như thẩm định và đề xuất ý kiến ​​đối với các dự thảo trong vấn đề pháp lý do các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp soạn thảo trước khi lên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc công ty.

– Trợ giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc công ty đưa ra ý kiến ​​phản đối các dự thảo về các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan đó gửi tới doanh nghiệp Xin đóng góp ý kiến. Đồng thời những người làm công tác pháp chế trong doanh nghiệp còn có vai trò đánh giá, tổng hợp về luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

– Tổ chức các buổi chiều giáo dục, phổ biến cho người lao động nắm lấy những điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp.

– Đôn đốc, giám sát việc thực thi luật và các điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó đánh giá, tổng kết lại quá trình thực tiễn áp dụng quy phạm pháp luật cũng như ý thức hành thủ của người lao động.

– Tư vấn về những vấn đề pháp lý chế độ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

– Đưa ra những ý kiến ​​trong lĩnh vực pháp lý đối với các quyết định của ban tổ chức, quản lý doanh nghiệp thông qua hoạt động đánh giá rủi ro trong nền kinh tế thị trường.

– Giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc công ty tham gia giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người lao động.

– Tham gia tố tụng hoặc tham thuê để luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nghiệp vụ.

5. Lợi ích từ chế độ công pháp

Lợi ích đầu tiên mà một doanh nghiệp thu được từ công tác pháp lý là đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bởi vì, để điều hành một doanh nghiệp, các nhà quản lý thông thường phải đưa ra các quyết định quản lý phù hợp vì lợi ích cao nhất của tổ chức, nhưng đồng thời phải đảm bảo an toàn trong lĩnh vực pháp lý. Chính vì thế, ngay từ khi thành lập bộ phận pháp chế, bộ phận này sẽ giúp các doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc theo dõi chính sách, đường lối của Đảng và luật của nhà nước thực hiện.

Bên cạnh đó, các cán bộ bộ pháp chế của doanh nghiệp còn tư vấn pháp lý Hạn chế những rủi ro khi giao dịch thông qua hợp đồng bằng cách đưa ra đánh giá, lấy ý kiến ​​đóng góp về dự án hợp đồng, tham gia trực tiếp phán xét với đối tác; làm đầu mối trong chủ trương rà soát, thiết lập hệ thống pháp lý đóng góp phần quản lý nội bộ của doanh nghiệp;

Với tinh thần “thượng Tôn pháp luật”, trong hoạt động sản xuất – kinh doanh, lãnh đạo các doanh nghiệp ngày càng nhận rõ vai trò quan trọng của việc thực thi pháp luật và công tác chế độ doanh nghiệp. Ban pháp chế của các doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc đã thực sự hỗ trợ tích cực lãnh đạo các cấp trong công việc chấp hành và vận dụng luật cho công tác quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.

6. Tiêu chuẩn đối với người làm công pháp chế độ

Có thể thấy không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng áp dụng tiêu chuẩn về người làm công tác pháp chế độ cũng giống nhau, tùy thuộc vào quy mô cũng như yêu cầu của công việc mà mỗi doanh nghiệp sẽ đặt ra những tiêu chuẩn riêng đối với với cán bộ tư pháp của mình. Tuy nhiên, tiêu chuẩn chung cho người làm công tác pháp chế bao gồm:

– Có kiến ​​thức học vấn đạt được trình độ cử nhân luật trở lên;

– Am hiểu Pháp luật liên quan trực tiếp các lĩnh vực kinh doanh của công ty;.

– Sử dụng tốt vi tính, thành thạo các phần mềm tin học văn phòng: Microsoft Word, Excel, PowerPoint;

– Kỹ năng soạn thảo, tra cứu và thẩm định văn bản;

– Kỹ năng lập kế hoạch, triển khai, kiểm soát và báo cáo công việc;

– Kỹ năng giao tiếp, phán phán, thuyết phục;

– Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức hiệu quả;

– Kỹ năng ngoại ngữ (Tùy từng đơn vị có yêu cầu hay không yêu cầu, hoặc yêu cầu ngoại ngữ là tiếng Anh hoặc tiếng khác).

Ngoài các yêu cầu nêu chung trên, người có vai trò là trưởng bộ phận chế độ trong doanh nghiệp cần đáp ứng thêm một số tiêu chuẩn như sau:

– Về trình độ chuyên môn:

Với nhiệm vụ rất quan trọng đặc biệt là quản lý hoạt động của bộ phận mình theo quy chế của công ty cũng như hành theo quy định luật hiện hành, trưởng bộ phận pháp chế doanh nghiệp là kim chỉ nam cho hoạt động liên quan đến lĩnh vực pháp lý cũng như hỗ trợ các bộ phận khác trong công việc quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty. Để thực hiện những công việc có hiệu quả đó thì trưởng bộ phận pháp chế doanh nghiệp cần đáp ứng một số yêu cầu:

+ Do tính chất công việc nên điều kiện ứng viên học đúng ngành luật rất được coi trọng. Ứng viên phải là cử nhân Luật (ưu tiên trình độ sau đại học và các văn bằng bổ sung) xếp hạng bằng loại khá trở lên và có chứng chỉ hành nghề luật sư.

+ Kiến thức sâu về quy chế và quy định của công ty.

+ Đã từng là luật sư hoặc quản lý pháp lý, có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp lý. Có 05 năm kinh nghiệm làm việc trong đó có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực liên quan đến bảo hiểm phi nhân thọ.

+ Có kinh nghiệm giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.

+ Có kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực pháp lý tại các vị trí tương tự trước đó.

– Về kỹ năng, tố chất:

Ngoài yêu cầu về trình độ chuyên môn nêu trên, một số yêu cầu đặt ra về kỹ năng mềm cũng như tố chất đối với trưởng bộ phận pháp chế doanh nghiệp như sau:

+ Có khả năng phân tích, tổng hợp và sàng lọc các thông tin cần thiết

+ Có khả năng tổ chức, sắp xếp công việc

+ Có khả năng chịu áp lực công việc khi giải quyết các vấn đề phát sinh

+ Có tư duy nhạy bén thu phần tìm kiếm cơ hội cho doanh nghiệp trong việc tìm kiếm mối quan hệ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

+ Có trình độ giao tiếp tiếng Anh thành công

+ Thành nguồn tin học văn phòng và một số trang web hỗ trợ quá trình làm việc của bộ phận pháp chế doanh nghiệp.

7. Các kỹ năng đối với người làm công pháp chế

Trong vi của mình, người làm công tác pháp chế của doanh nghiệp là người có trách nhiệm tư vấn cho người đại diện theo luật của doanh nghiệp cũng như hệ thống nội bộ của doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý liên quan đến chế độ lao động như tiền lương, giải quyết tranh chấp và ủy quyền hành chính… Theo đó, người làm công tác pháp chế cho doanh nghiệp là người trực tiếp xây dựng hoặc là người đưa ra các ý kiến ​​đóng góp trong quá trình xây dựng hệ thống văn bản nội bộ của doanh nghiệp. Để làm tốt công việc này, cán bộ làm công tác pháp chế phải hiểu các nguyên tắc của luật tư (Luật Dân sự, Luật Ủy quyền, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại…), bên cạnh đó các biến ý tưởng/ý tưởng Kiến pháp lý giải thành tài liệu mà những người không phải là chuyên ngành đấu thầu có thể hiểu được một cách dễ dàng, tránh được sự cố Thử thách trong cuộc hành trình đạt được.

Theo tiêu chuẩn yêu cầu đối với cán bộ làm công tác pháp chế, các trang chính hành động cần có cụ thể bao gồm:

a) Tư duy luật sư:

Kỹ năng đầu tiên được đặt ra đối với cán bộ làm công pháp chế, theo đó người làm công pháp chế cần trả lời các kỹ năng cơ bản như: thảo luận, thẩm định, góp ý, đàm phán, ký kết hợp đồng. Bên cạnh đó có sự kết hợp giữa các kỹ năng giải quyết tranh chấp và xây dựng văn bản chế độ doanh nghiệp (quy trình, quy định, quy chế), ủy quyền hành chính; nghiên cứu khoa học… Ngoài ra những người làm công tác pháp chế cần phải có kỹ năng mềm vô cùng quan trọng là kỹ năng tư duy luật sư.

“Giáo sư luật học người Mỹ Jane C. Ginsburg chỉ ra các phương pháp tư duy pháp lý nói chung thuộc phạm trù chung của phương pháp pháp luật (legal methods). Sinh viên luật cần nắm lấy các vấn đề chính yếu trong phương pháp tư duy duy luật, cách nghĩ như luật sư thực hành. Thuyết tư duy theo nhiệm vụ hay phương pháp Socrates rất hiệu quả đối với cách tư duy này. Xuất phát từ việc làm sinh viên luật muốn học luật tốt thì phải là một người cảm nhận được điều tốt về văn chương và nghệ thuật, trong chương trình giáo dục của một số nước phát triển như Anh, Mỹ, Đức, sinh viên/học viên luật học còn được học bộ môn Luật và Văn chương (Luật và Nghệ thuật). Tương tự, luật sư người Mỹ Michael G. Trachtman chỉ ra các phương thức tư duy như luật sư (nghĩ như luật sư) với tư tưởng chủ đạo của một sự việc không tiếp tục, đặt ra các giả thiết tạm thời khi đối mặt với một câu hỏi pháp lý (các vấn đề pháp lý) và sự kiện pháp lý (sự kiện). Trong bối cảnh đó, phông nền văn hóa của sinh viên luật (nền) quyết định thành bại trong tư duy và hành động của sinh viên luật trong tương lai. Trong khi đó, theo Nguyễn Minh Đoan, ở Việt Nam, việc giáo dục luật thiếu thực tiễn và các giảng viên dạy luật không được thi hành luật ở các cương vị luật sư, thẩm phán… bắt cho việc dạy và học càng thiếu thực tiễn. Trong bối cảnh đó, phông nền văn hóa của sinh viên luật (nền) quyết định thành bại trong tư duy và hành động của sinh viên luật trong tương lai. Trong khi đó, theo Nguyễn Minh Đoan, ở Việt Nam, việc giáo dục luật thiếu thực tiễn và các giảng viên dạy luật không được thi hành luật ở các cương vị luật sư, thẩm phán… bắt cho việc dạy và học càng thiếu thực tiễn. Trong bối cảnh đó, phông nền văn hóa của sinh viên luật (nền) quyết định thành bại trong tư duy và hành động của sinh viên luật trong tương lai. Trong khi đó, theo Nguyễn Minh Đoan, ở Việt Nam, việc giáo dục luật thiếu thực tiễn và các giảng viên dạy luật không được thi hành luật ở các cương vị luật sư, thẩm phán… bắt cho việc dạy và học càng thiếu thực tiễn.

Theo Nguyễn Ngọc Bích, phương pháp tư duy duy nhất của luật sư bao gồm các bước tìm ra sự kiện trục vít, câu hỏi pháp lý trục vít… thú trung lại thành phương pháp “rắn thật rộng, đánh tập trung” và “tư duy pháp” lý do là cách thức suy nghĩ của luật sư để tìm ra giải pháp cho một nhiệm vụ tranh chấp phù hợp với luật lệ”. Cũng theo tác giả này, tư duy pháp lý bao gồm 02 điểm đặc biệt “tìm câu trả lời bằng cách đặt câu hỏi và bắt đầu siết chặt luật, nhưng việc cần làm là đi tìm và phân tích các sự kiện”. Sinh viên luật, để có được tư duy như vậy, cần có thói quen đặt câu hỏi liên tục và tự động trả lời như một luật sư. Ví dụ: Khi đi trên xe đổ tới trường, nhìn thấy một vụ đầu đạn do tai nạn giao thông, bạn cần quan sát kỹ các dấu vết của phương tiện, dấu các hiệu (xi – nhan xin đường, if there) of the tiện ích… và không kết luận ngay khi chưa có đầy đủ dữ liệu. Ngược lại với phương pháp của luật sư Nguyễn Ngọc Bích nêu trên, trong giới hàn lâm, bản thân “tư duy pháp lý” nhiều khi chỉ mang tính lý luận, phản hồi kinh nghiệm của luật sư nước ngoài hơn là chiết xuất từ ​​thực tế đòn bẩy hành nghề của giới luật sư, cán bộ tư pháp… nước nhà.”[2]

Theo đó, cán bộ làm công tác pháp chế trong doanh nghiệp cần phải có tư duy của một luật sư trong hoạt động của doanh nghiệp mình với doanh nghiệp mà mình cộng tác. Bên cạnh đó, đường tư duy này còn giúp doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu đề ra cũng như không trái với quy định của luật hiện hành.

b) Về kỹ năng soạn thảo văn bản:

Có thể thấy, nhìn chung sinh viên luật có xu hướng làm phức tạp hóa một vấn đề từ đơn giản thành phức tạp, do đó khiến người đọc cảm thấy rối rắm, khó hiểu. Đối với những bản dịch từ tiếng nước ngoài những bản văn này càng trở nên phức tạp. Đối với vấn đề này, một câu nói được đặt ra như sau: “Câu đơn là vô địch thiên hạ”. Theo đó, người làm công việc pháp chế có thể hiểu được cần diễn giải bằng các câu đơn giản, trình bày vấn đề một cách đơn giản, khiến người đọc cảm thấy dễ hiểu bởi có thể tại nơi làm việc của bạn, trừ bạn ra và only have you learning law.

c) Về kỹ năng phán quyết hợp đồng:

Trong các kỹ năng của người làm công tác pháp chế, đàm phán là một kỹ năng quan trọng, trong đó kỹ năng nghe hiểu được ưu tiên chú trọng. Theo đó người làm công tác pháp chế cần lắng nghe ý kiến ​​khách hàng và của đồng nghiệp trong quá trình đàm phán phán quyết để soạn thảo hợp đồng. Tuy nhiên không phải lúc nào ý kiến ​​của đồng nghiệp hay đối tác cũng đúng, trong một số trường hợp không đồng ý với ý kiến ​​đó, người làm công tác pháp chế cần ghi chép và phản hồi lại bằng những lập luận, lý lẽ. lý thuyết phục hồi.

d) Kỹ năng nghiên cứu khoa học:

Một kỹ năng không thể không kể đến, qua đó giúp người làm công việc hợp pháp chế doanh nghiệp ngày càng phát triển lành mạnh, chính là kỹ năng nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học được hiểu là nghiên cứu, học hỏi, khám phá và cập nhật kiến ​​thức. Trong phạm vi nhất định, nghiên cứu khoa học giúp cán bộ pháp chế trau dồi khả năng viết trong quá trình tư vấn luật của doanh nghiệp. Ngoài ra kỹ năng nghiên cứu khoa học giúp người làm trong công tác luật nói chung và công tác pháp chế trong doanh nghiệp nói riêng có thể tìm ra phương pháp phù hợp với bản thân và doanh nghiệp Hướng tới sự phát triển của các doanh nghiệp kỹ năng hành nghề luật.

e) Kỹ năng xây dựng chế độ văn bản:

Có thể hiểu: “Văn bản chế độ là các văn bản có đối tượng áp dụng là toàn bộ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp đối với từng phạm vi công việc cụ thể.”

Về cấu hình: Văn bản chế độ có thể hiển thị dưới dạng quy định, quy trình, quy chế. In which:

– Quy định là những văn bản có phạm vi áp dụng cơ sở, theo đó những đối tượng áp dụng của quy định hành theo những điều mà văn bản này miêu tả, ví dụ như: Quy định về việc nghỉ lễ, pháp; quy định về chế độ nghỉ thai sản…

– Quy trình là trình tự, thủ tục thực hiện một công việc được định rõ nhất, ví dụ như: Quy trình thẩm định giá bất động sản; quy trình bán hàng bất động sản…

– Quy chế là những văn bản có phạm vi rộng hơn và thẩm quyền ban hành cao hơn so với quy định, theo đó quy chế được xây dựng đưa ra đường lối cũng như định hướng để thực hiện một công việc, ví dụ như : Quy chế quản lý tài chính, quy chế quản trị nhân sự, quy chế quản lý hợp đồng…

Như vậy có thể thấy văn bản chế độ của doanh nghiệp chính là luật của doanh nghiệp đó, hệ thống luật luật càng chắc chắn thì doanh nghiệp càng hạn chế những rủi ro pháp lý. Tuy nhiên, văn bản chế độ của doanh nghiệp phải chắc chắn không được trái với quy định Hiến pháp và các văn bản luật khác. Chính vì vậy, bộ phận pháp chế của doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống luật pháp nội bộ phù hợp với thực tiễn công ty, tuy nhiên vẫn phải giám sát chặt chẽ theo quy định pháp luật hiện hành.

f) Kỹ năng tư vấn pháp luật:

Khi gặp bất kỳ vấn đề pháp lý nào, các cán bộ doanh nghiệp/chủ doanh nghiệp sẽ hỏi ngay cán bộ pháp chế doanh nghiệp/luật sư nội bộ để biết được đáp án về giải pháp cho công việc. Để trả lời các câu hỏi/vụ việc này, cán bộ pháp chế doanh nghiệp (tương lai) cần tránh kiểu trả lời “đoán gò” và/hoặc câu trả lời theo hướng “có/không làm được”. Theo đó, cán bộ pháp chế doanh nghiệp (tương lai) nên ghi chép đầy đủ, vẽ lược đồ các quan hệ luật và rủi ro pháp lý (nếu có)… Ví dụ: Để thực hiện phù hợp với lộ trình pháp lý A, rủi ro pháp lý là B, hệ quả pháp lý là C. Trong một số trường hợp, cần quy định được tiền rủi ro pháp lý và chi phí (nếu có) để xử lý rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp.

NGUỒN: https://hotrovietluanvan.com/ho-tro-viet-luan-van/https://hotrovietluanvan.com/ho-tro-viet-luan-van/

2 Bình luận
Website liên kết